Trang chủ Văn học Bàn tròn văn học Nghĩ về chất vàng mười trong người lái đò sông Đà của...

Nghĩ về chất vàng mười trong người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân

27
0
Chia sẻ

Trong tác phẩm Người lái đò Sông Đà, nhà văn Nguyễn Tuân tự coi mình là người “đi tìm cái thứ vàng của màu sắc núi sông Tây Bắc…” Bạn nghĩ như thế nào về chất vàng mười trong người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân

3 bài văn nói về chất vàng mười trong người lái đò sông Đà

Bài 1: Cảm nhận về chất vàng mười của màu sắc núi sông Tây Bắc qua hình tượng con sông Đà

nghi-ve-chat-vang-muoi-trong-nguoi-lai-do-song-da-cua-nguyen-tuan-hinh-anh-1

Vàng trong câu nói của nhân vật không hiểu theo nghĩa đen, ở đây nhân vật muốn mượn vẻ đẹp và sự qúy giá của núi sông và tài trí của con người lao động Tây Bắc. Trong câu nói của mình Nguyễn Tuân có dụng ý khi không dùng chữ “vàng” để nói về cảnh sắc thiên nhiên và chữ “vàng mười” để chỉ vẻ đẹp và giá trị của con người lao động. Nhà văn ngầm ý: Bản tính quý báu trong phẩm chất tài năng của con người phải được tôi luyện trong cuộc sống giống như vàng được tôi luyện trong lửa. Vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc thật quý giá nhưng con người Tây Bắc đẹp hơn quý giá hơn trong việc chinh phục cải tạo thiên nhiên.

Chất vàng của thiên nhiên Tây Bắc thể hiện ở sự quý giá. iểu tượng cho vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc chính là hình tượng dòng sông Đà và dòng sông là biểu tượng cho sức mạnh dữ dội, hùng vĩ của thiên nhiên đất nước. Đầu tiên sự hùng vĩ của dòng sông được nhà văn ghi tạc bằng địa thế đầy ấn tượng với “hai bên đá dựng thành vách” lòng sông “chẹt lại như một cái yết hầu” và đó còn là “những thác nước gầm réo muôn đời” tiếng thác nước nghe như là oán trách gì! rồi lại “như là van xin rồi lại như là khiêu khích giọng gằn mà chế nhạo”. Con sông chợt trở nên hung bạo hơn khi sóng nước reo hò làm thanh viện cho đá, “mặt nước hò la vang dậy quanh mình ”. Tiếng nước của sông Đà ở nhiều quãng sông mênh mông với những ghềnh đá nhấp nhô “nước xô sóng, sóng xô gió, gió xô bờ, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm”. Không những vậy, sông Đà còn là một dòng sông vô cùng hiểm ác. Cái hiểm ác của nó thể hiện rõ ở những ghềnh thác. Ở đây dòng sông như “dàn bày thạch trận chực nuốt chìm những con thuyền non tay lái ”. “ Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền”. Nhà văn đã rất thành công khi sử dụng một loạt các phép nhân hoá đạt tới sự hiểm ác của dòng sông. Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, sông Đà hiện lên như một con thuỷ quái khổng lồ vừa nham hiểm vừa hung dữ lại khôn ngoan, mưu trí. Sông Đà “mang diện mạo kẻ thù số một của người lái đò” “Đặc biệt trong vẻ dữ dội, hung bạo của sông Đà, ta thấy cái quý giá của sức nước thể hiện ở những “tuốc pin thuỷ điện” đó chính là sự quý giá của tài nguyên thiên nhiên đất nước. Nhưng rõ hơn ở cái quý giá, ở đây chính là tiềm năng lớn lao ngay trong vẻ hoang dại, phóng khoáng với sức mạnh bạo liệt của dòng sông.

Cái chất vàng mười trong người lái đò sông Đà không chỉ ở sự quý giá mà còn ở vẻ đẹp. Đó là vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của dòng sông. Dòng sông mang vẻ đẹp của một thiếu nữ Tây Bắc. Vừa kiều diễm vừa hoang dại đấy sức hấp dẫn “con sông Đà tuôn dài như 1 áng tóc trữ tình mà đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai”. Cùng với hình ảnh của dòng sông thướt tha mềm mại là màu nước của sông Đà cũng thay đổi theo mùa : mùa xuân nước sông Đà “xanh màu ngọc bích” còn mùa thu thì “nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt 1 người bầm đi vì rượu bữa” Không chỉ thơ mộng sông Đà hiện lên trong cảm nhận của nhà văn là 1 con sông rất đỗi hiền hoà. Có những quãng sông rộng “bờ sông hoang dại như bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa ”. Nét hiền hoà ấy đã từng là nguồn cảm hứng của biết bao thi nhân, đẹp hơn là cảnh sắc hai bên bờ sông thật tươi vui, ấm áp, vang trời sức sống với những “nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa”. Và “con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương ” ngơ ngác trên màu xanh rợn ngợp đên tận chân trời ấy.

Chất vàng mười quý báu của con người Tây Bắc. Cùng với sự quý giá của thiên nhiên là vẻ đẹp và sự quý báu của con người lao động Tây Bắc. Trong tác phẩm con người mang chất vàng mười quý giá ấy lại là người lao động bình thường với nghề nghiệp cũng thật bình thường: lái đò trên sông Đà. Thế nhưng trong cái bình thường ấy đã ánh lên vẻ đẹp rực rỡ như “vàng mười” của những con người đã vươn lên chinh phục và chế ngự dòng sông hung bạo. Thật ra nhà văn dụng công miêu tả dòng sông hung bạo đến tột cùng trữ tình thơ mộng đến tuyệt mĩ ấy phải là con người ngang tầm vóc tương xứng với nó : một tầm vóc thật lớn lao, kì vĩ.

Chất vàng mười trong con người ở đây là sự dũng cảm, gan dạ, tài ba của một “tay lái ra hoa”. Nguyễn Tuân đã rất thành công khi tạo ra một đạo binh ngôn từ hùng hậu để miêu tả thật hấp dẫn cuộc thuỷ chiến không cân xứng, kẻ thù đã bày binh, bố trận thật nham hiểm , xảo quyệt. Còn người lái đò, tuổi đã cao, trên tay chỉ có vũ khí duy nhất là mái chèo. Vậy mà trong cuộc thuỷ chiến ấy bằng sự dũng cảm, gan dạ, mưu trí, ông lái đò đã vượt qua hết vòng vây thạch trận khác nhau. Nắm chắc binh pháp của “thần sông, thần đá” ông lái đò cưỡi lên thác sông Đà như một đại tướng lão luyện, dày dạn kinh nghiệm xông pha giữa trận mạc. Hình ảnh ông lái đò hiện lên thật đẹp, có khác nào những nhân vật anh hùng trong cái thiên anh hùng ca thời cổ đại. Đẹp biết bao hình ảnh ông lái “ghì cương lái phóng nhanh vút vút” khiến con thuyền như một mũi tên tre “vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được”.

Vẻ đẹp của người lái đò còn thể hiện ở tâm hồn hết ngưỡng mộ trân trọng đến ngợi ca cái đẹp. Ông thường gọi sông Đà bằng cái tên đầy ấn tượng : thần sông, thần đá. Phẩm chất tài hoa nghệ sĩ của người lái đò được tô đậm ở phong thái ung dung, thanh thản sau những lần vượt thác, mối nguy hiểm ngay trong cuộc chiến đấu vừa qua đều xèo xèo tan trong trí nhớ của người lái đò tài hoa ấy. Vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của người lái đò trong nghệ thuật vượt thác chính là thứ “vàng mười” ngời sáng giữa thiên nhiên hùng vĩ của Tổ quốc.

“Người lái đò sông Đà” là kết tinh nhiều quan điểm, tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật của Nguyễn Tuân sau cách mạng tháng 8. Qua tuỳ bút đặc sắc này nhân vật đã thể hiện quan niệm sâu sắc về người nghệ sĩ “nghệ sĩ không chỉ là những người hoạt động trên lĩnh vực nghệ thuật mà bất kì hành động nào đạt đến trình độ kĩ năng, kĩ xảo đều có thể gọi là nghệ sĩ”. Và với ông những người bình thường trong cuộc sống cũng có thể là những con người lớn lao vĩ đại, họ là những người chủ của đất nước xây dựng quê hương đất nước càng ngày càng đẹp hơn. Vẫn là cái nhìn tài hoa và uyên bác, người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp ấy đã không còn tin ở những con người đặc biệt như trước. Cách mạng tháng 8 mà đã tìm thấy cái đẹp trong hiện thực cuộc sống đời thường đó chính là chất vàng trong cảnh sắc và tâm hồn con người Tây Bắc.

Cảm hứng lãng mạn, bằng phép thuật ngôn từ và với tình yêu lớn lao dành cho thiên nhiên con người. Nguyễn Tuân khẳng định : Cái đẹp, cái quý giá bao giờ cũng có trong thiên nhiên và con người. Nhưng biết nhìn thấy, biết cách làm cho mọi người cùng nhìn thấy là thiên chức của nhà văn. Muốn làm được điều đó, người nghệ sĩ cần có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cái tâm và cái tài.

Bài 2: Chất vàng mười trong người lái đò sông Đà qua vẻ đẹp của con người Tây Bắc

nghi-ve-chat-vang-muoi-trong-nguoi-lai-do-song-da-cua-nguyen-tuan-hinh-anh-2

“Người lái đò sông Đà” là thiên tùy bút rút trong tập “Sông Đà” (1960) của Nguyễn Tuân. Đây là thành quả nghệ thuật đẹp đẽ mà Nguyễn Tuân đã thu hoạch được trong chuyến đi thực tế đến Tây Bắc năm 1958. trong chuyến đi này, tác giả đã có cơ hội sống với những khoảnh khắc thân thuộc nhất, hào hứng nhất của người nghệ sỹ trong ông. Ông cảm nhận được “thứ vàng mười đã qua thử lửa” của những người lao động bình dị trên miền sông nước hùng vĩ và thơ mộng. Thật đúng khi cho rằng “thiên tùy bút là bài ca về vẻ đẹp của người lao động trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”, mà điển hình, dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, là hình tượng người lái đó vừa là người anh hùng, vừa là người nghệ sỹ tài ba trong nghề của mình.

Trong các tác phẩm của mình dù viết trước hay sau cách mạng tháng Tám thì các nhân vật chính luôn được ông xây dựng thành những con người đặc biệt, tài hoa nghệ sỹ. Hình ảnh ông lái đò cũng không phải là một ngoại lệ. Khi đọc tác phẩm, ta sẽ ấn tượng ngay đầu tiên với ngoại hình của ông “Tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh lại như kẹp lấy một cái cuống lái tưởng tượng. Giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông, nhớn giới ông vồi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù…” Sức vóc ông khỏe mạnh chẳng khác gì thanh niên trai tráng mười tám đôi mươi “Gần bảy mươi tuổi, cái đầu quắc thước của ông đặt trên một thân hình cao to và gon guánh như chất sừng, chất mun…ông giơ tay lên, đôi cánh tay trẻ tráng quá bịt cái đầu bạc hói đi. Không ai không lầm tưởng mình đang đứng trước một chàng trai đang ngồi ngoài bến chính bờ sông” Những dòng này được nhà văn viết ra không chỉ để giới thiệu ngoại hình của một con người mà còn để ca ngợi sự gắn bó, yêu quý nghề ở chính con người đó. Chỉ có yêu quý nghề, gắn bó sâu đậm với nghề, nhiều năm một nắng hai sương dong duổi chở khách trên con sông Đà hùng vĩ thì ngoại hình mới mang đậm dấu ấn nghề nghiệp như vậy. Đây chính là phong cách viết độc đáo của Nguyễn Tuân, ông luôn nén câu văn của mình nhiều điều muốn nói, “Hàm lượng thông tin” ở đó không bao giờ chỉ ở một tầng hiển ngôn, chỉ khi chuyên chú đọc ta mới khám phá ra được nhiều tầng ẩn ngôn hàm chứa trong từng câu văn của tác giả.

Nhưng chỉ những nét miêu tả ngoại hình thôi thì chưa đủ. Trong ông lái đò còn ẩn chứa rất nhiều điều tuyệt vời đặc biệt của một người từng trải thạo nghề. Ông là một linh hồn muôn thuở của sông nước này. “Trên sông Đà, ông xuôi, ông ngược hơn một trăm lần rồi, chính tay giữ lái đò sáu mươi lần cho những chuyến thuyền then đuôi én sau chèo”. Sự từng trải ấy còn được thể hiện qua trí nhớ siêu phàm của ông. Trí nhớ ấy được rèn luyện cao độ bằng cách lấy mắt mà nhớ tỷ mỉ 73 con thác, như đóng đanh vào lòng tất cả những luồng nước của con thác hiểm trở. Hơn thế nữa, sông Đà đối với ông lái đò như một bản trường thiên anh hùng ca mà ông thuộc lòng đến cả những cái dấu chấm than chấm câu và cả những đoạn xuống dòng. Khi được tác giả hỏi chuyện, người lái đò đã bày mươi tuổi, làm nghề đó dọc mười năm liền và đã nghỉ làm nghề đôi chục năm nhưng trong ông, bản lĩnh kiên cường dường như không hề suy chuyển. Ông vẫn rất tự tin mà rằng: “Tôi bỏ nghề đã lâu rồi nhưng nay cho lên thác xuống ghềnh tôi dám thi đua với bạn đò ở khắp mấy châu có địa giới loang ra bờ sông Đà, cũng còn cái linh lợi để trở mừng một phái đoàn trung ương vừa lên vừa xuống thăm dò khảo sát toàn bộ sông Đà cho đến biên giới Trung Quốc”

Nhưng trên hết tất cả, hình tượng ông lão lái đò được khắc họa rõ nét nhất qua trận thủy chiến với sông Đà. Vẻ đẹp sức mạnh của ông lái đò được khắc họa trong tương quan với vẻ đẹp của con sông Đà hung bạo, hùng vĩ. Chỉ từng trải thôi thì chưa đủ, đối với con sông Đà, ai chế ngự được nó đòi hỏi phải có lòng dũng cảm, gan dạ, mưu trí, nhanh nhẹn và cả sự quyết đoán nữa. Nguyễn Tuân đã đưa nhân vật của mình vào ngay hoàn cảnh khốc liệt mà ở đó, tất cả những phẩm chất ấy được bộc lộ, nếu không phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Đây chính là dụng ý của tác giả khi viết về hình tượng ông lái đò, phẩm chất dũng cảm, gan dạ, kiên cường chỉ được bộc lộ rõ nhất khi nhận vật đối mặt với khó khăn, nguy hiểm. Giả sử đặt ông lái đò trong khung cảnh thi vị, trữ tình của sông Đà thì hình tượng lại phát triển theo một hướng khác, trở thành một nghệ sỹ đa tình lẫn vào thế giới nhân vật của Nguyễn Tuân trước Cách mạng. Còn ở đây, ông lái đò trở thành người anh hùng nghệ sỹ trong thiên sử thi leo ghềnh vượt thác. Đó chính là cuộc vượt thác đầy nguy hiểm chết người, diễn ra nhiều hồi, nhiều đợt như một trận đánh mà đối phương đã hiện ra ngay diện mạo và tâm địa độc ác của kẻ thù số một, lực lượng đá hậu, đá tương, đá tiền về với nhiều thủ đoạn nham hiểm tạo thành một lực lượng hùng hậu, đông đảo, dữ dằn và nham hiểm. Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn chúng giăng sẵn trận đồ bát quái với ba trùng vi. Trùng vi một có 4 cửa tử và 1 cửa sinh. Sóng trận địa phóng thẳng, mặt nước hò la vang dậy mà vào bẻ gãy cán chèo vũ khí của ông lái đò nhưng ông vẫn hai tay giữ chắc mái chèo khỏi bị hất lên. Vì thế sóng nước lại càng dọa dẫm, sấn sổ, hiếu chiến như thể quân liều mạng. Nước bám lấy thuyền như đồ vật túm lấy thắt lưng ông lái đò lật ngửa mình giữa trận nước. Khi sông Đà tung ra miếng đòn hiểm độc nhất nốc ao đối phương, ông lái đò cũng chẳng run tay, cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt móc bệch.Ông chỉ huy hết sức ngắn gọn và tỉnh táo, đầy mưu trí như một vị chỉ huy, lái con thuyền vượt qua trùng vi một hiểm trở. Phá xong trùng vi thạch trận thứ nhất ông lái đò phá luôn vòng vây thứ hai. Trùng vi hai tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, cửa sinh lại được bố trí lệch qua bờ hữu ngạn thật nham hiểm và xảo quyệt, thiên nhiên hùng mạnh như thú dữ. Bốn, năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ trái liền xô ra định nhử thuyền vào tập đoàn cửa tử. Nhưng ông lái đò đã nắm chắc được binh pháp của thần sông, thần đá, không một chút nghỉ tay nghỉ mắt, ông lái đò nắm chặt lấy cái bờm sóng đúng luồng, ghì cương lái bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh lái miết một đường chéo về phía cửa đá. Thật điêu luyện. Đến vòng thứ ba, ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả, luồng sông nằm ở ngay giữa bọn đá hậu vệ. Một ông lái đò và sáu tay trèo, tưởng chừng như con người hết sức nhỏ bé, ít ỏi, cạn kiệt sức lực giữa một thiên nhiên hung dữ. Nhưng không, như một vị tướng lão luyện dày dặn kinh nghiệm, trận mạc, ông lão phóng thẳng thuyền trọc thủng cửa giữa. Thuyền vụt qua cổng đá, cánh mở cánh khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh cho qua hơi nước, vừa xuyên, vừa tự động lái được. Thế là kết thúc. Tác giả đã rất dày công khi miêu tả trận thủy chiến với con sông Đà củ ông lão lái đò. Một loại những hành động nhanh mạnh: Phóng nhanh, phóng thẳng, lái miết một đường, chọc thủng, xuyên nhanh,…Kết hợp với nhịp văn gấp gáp, hơi văn căng thẳng, câu văn dồn dập gợi nên một cuộc giao tranh giáp lá cà một sống, một chết. Hơn nữa thư pháp nghệ thuật tương phản được sử dụng triệt để và rất độc đáo trong tác phẩm đã xây dựng lên hai phe đối lập: một bên là thiên nhiên hung tàn, bạo liệt với một bên là con người nhỏ bé nhưng đầy bản lĩnh, sự quả cảm và khả năng chinh phục thiên nhiên kỳ diệu. Ông lái đò trong tay chỉ có một mái chèo “Như cái que giữa bạt ngàn sóng thác” như một vị tướng bách chiến bách thắng, phá thành vượt ải.

Với ngòi bút tài hoa và sự uyên bác, am hiểu về mọi lĩnh vực như thể thao, võ thuật, quân sự… của mình, Nguyễn Tuân đã biến câu chuyện bình thường thành bản trường ca hào hùng, biến ông lái đò bình thường thành một anh hùng, một nghệ sỹ lái đò trong nghệ thuật leo ghềnh vượt thác. Ông vừa là dũng sĩ, vừa là nghệ sỹ – tay lái ra hoa, ông tiêu biểu cho hình ảnh con người lao động trong công cuộc xây dựng xã hôi chủ nghĩa. Không chỉ là cô Đào trong truyện ngắn “Mùa lạc” của Nguyễn Khải, tình nguyện lên Điện Biên xây dựng nông thôn mới, không chỉ là tầng lớp thanh niên “Tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy/ Là xa xôi biết mấy cũng lên đường”, mà cùng với họ, ông lái đò sông Đà đã góp phần làm nổi bật, tôn lên vẻ đẹp, phẩm chất của người lao động trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội những năm 55 – 60.

Quả thật, vẻ đẹo “Chất vàng mười đã qua thử lửa” trong tâm hồn của con người Tây Bắc đã được NguyễnTuân dày công khám phá trên dòng Đà giang khuất nẻo. Nếu như thiên sông Đà trong tác phẩm của Nguyễn Tuân là  “Kẻ thù số một của con người”, thì cũng chính thiên nhiên qua ngòi bút của nhà văn là nơi đã tôn vinh giá trị con người lao động. Quả thật sâu sắc khi nói “Thiên tùy bút là bài ca về vẻ đẹp của con người lao động trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Tác phẩm sẽ mãi là bản trường ca hào hùng đi cùng năm tháng.

Bài 3: Cảm nhận về cái gọi là chất vàng mười trong người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân

nghi-ve-chat-vang-muoi-trong-nguoi-lai-do-song-da-cua-nguyen-tuan-hinh-anh-3

Trong “Trường ca mặt đường khát vọng”, Nguyễn Khoa Điềm từng viết:

Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu

Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát

Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác

Gọi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi…

Non sông gấm vóc Việt Nam được tạo nên từ trăm ngàn con sông lớn nhỏ. Từ những dòng sông ở đồng bằng mang đến bao phù sa màu mỡ đến những con sông ở miền núi cao với tiềm năng thủy điện, chúng đều có những vẻ đẹp riêng. Với Nguyễn Tuân  – nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp – lại bị cuons hút bởi một con sông đặc biệt: sông Đà. Vẻ đẹp của sông Đà được Nguyễn Tuân xem là “thứ vàng mười của màu sắc núi sông Tây Bắc”.

Vàng mười không chỉ đẹp mà còn rất có giá trị. Và có lẽ vì đó mà nhà văn gọi sông Đà là “thứ vàng mười”. Sông Đà đẹp, nhưng lại mang một vẻ đẹp rất khác, đầu tiên nằm ở hướng chảy của nó. Ngày từ đầu tác phẩm, Nguyễn Tuân đã trích hai câu thơ của Nguyễn Quang Bích:

Chúng thủy giai đông tẩu

Đà giang độc bắc lưu

Trong khi mọi dòng sông đều rủ chảy nhau về hướng đông thì sông Đà ung dung ngược về phương bắc, chỉ riêng mình nó chảy về phương bắc mà thôi. Có lẽ vì vậy mà con sông này có đến hai nét tính cách riêng biệt: hung bạo nhưng cũng rất đỗi trữ tình.

Sông Đà trước tiên là dòng sông lắm thác nhiều ghềnh. Cái hùng vĩ của nó được thể hiện qua những tảng đá ven bờ được dựng thành vách. Vách cao đến nỗi “mặt sông chõ ấy chỉ lúc chính ngọ mới có mặt trời”. Thậm chí, nói còn “chẹt òng sông như một cái yết hầu”. Ở đây, Nguyễn Tuân đã sử dụng biện pháp liên tưởng, so sánh rất thành công, tái hiện lại cho người đọc được độ cao của vách đá cũng như sự âm u đáng sợ của sông Đà. Tiếng gầm thét của con sông nghe cúng thật đáng sợ. suốt năm suốt tháng cứ gầm ghè gào thét, “nghe như à tiếng đòi nợ xuýt” vậy. Ghềnh Hát Loongs nước đổ dữ dội “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió”. Người lái đò qua đây phải vô cùng cẩn thận nếu không thuyền sẽ bị lật ngửa lên ngay. Tác giả đã sử dụng biện pháp điệp từ khiến con sông trở nên dữ dội hơn, dồn dập hơn. Con sông Đà hung ạo còn bởi những cái hút nước chết người. Chúng như những cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu, khi thì “thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”,khi thì “ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”. Hút nước vốn đã ghê rợn lại được nhà văn sử dụng các từ như “thở, kêu, sặc, ặc ăc” càng làm tăng thêm sự khủng khiếp của chúng. Trong phần này, Nguyễn Tuân đã chứng minh sự tài hoa uyên bác của mình bằng cách sử dụng vốn kiến thức từ nhiều lĩnh vực từ điện ảnh, âm nhạc, hội họa đến xây dựng để miêu tả sự kỳ vĩ, hung bạo của Đà giang. Có thể nói, ông là người đầu tiên so sánh nước với lửa: “nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa”. Nước và lửa vốn là hai thứ có sức hủy diệt lớn, lại luôn tương khắc nhau, nay dưới ngòi bút tài ba của Nguyễn Tuân mà trở thành hai yếu tố hợp sức với nhau để tái hiện nên cái kỳ vĩ của thác nước. tiếng nước nghe “như là oán trách, rồi lại như van xin, khi thì khiêu khích, giọng gằn chế nhạo.” Tác giả đã nhân cách hóa dòng sông,  biến nó thành một tạo vật trái tính trái nết, lúc nào cũng gầm gừ gào thét những âm thanh ghê rợn.

Cái hùng vĩ của sông Đà không chỉ ở thác nước mà còn ở những “trùng vi thạch trận” đầy hiểm nguy. Tác giả chia đá ở đây thành ba trùng vi thạch trận. vòng đầu tiên là “hàng tiền vệ” với bốn của tử, một cửa sinh, cửa sinh nằm về phía tả ngạn dòng sông. Chúng có nhiệm vụ dụ thuyền vào giữa tuyến rồi “đánh khuýp quật vu hồi lại”. Tiếp đến là vòng thứ hai. Vòng này tăng thêm cửa tử, cửa sinh dược bố trí về hữu ngạn với những boong ke pháo đài có nhiệm vụ tiêu diệt những thuyền vượt qua vòng một. Trùng vi thứ ba thì ít cửa hơn, cửa sinh lại nằm ở chính giữa. Đi hết cửa này lòng sông bỗng trở nên thanh bình. Sông Đà hiện lên như một loài thủy quái đầy mưu mô, xảo quyệt. Những loại đá thì như những binh sĩ hung tợn, tên nào tên nấy ngỗ ngược, nhăn nhúm và hiếu chiến. Một lần nữa nhà văn lại thể hiện sự uyên bác của mình qua lĩnh vực quân sự, thể thao, võ thuật để miêu tả sông Đà. Nguyễn Tuân như một nhà thám hiểm tài ba đang kể lại cho chúng ta chuyến thủy trình đầy hiểm nguy bằng những ngôn từ, liên tưởng vô cùng sống động. Sự ghê rợn của Đà giang nghìn đời nay vốn vẫn quyết đầu với con người. Có thể nói, qua việc miêu tả thác nước song Đà, Nguyễn Tuân đã làm nổi bật lên sức mạnh chế ngự tự nhiên của con người. Nhưng suy cho cùng, sự dữ dội của con sông ấy lại mang về tiềm năng thủy điện, tiềm năng kinh tế cho người dân, đất nước.

Đáng sợ là thế nhưng sông Đà cũng là một dòng sông rất trữ tình. Đi qua cái dữ dội của thác đá, sông Đà lại trở về là một dòng sông thanh bình, dịu êm. Không còn những trùng vi thạch trận đầy hiểm nguy, không còn những hòn đá ngỗ ngược, sông Đà lúc này êm đềm với những chuồn chuồn, bươm bướm. Nguyễn Tuân nhìn sông Đà như một cố nhân. Do đó, ông hiểu cái “chất đằm đằm ấm ấm” thân quen và cái chất thơ mộng mị của cảnh sắc thiên nhiên sông Đà. Ven bờ là những bãi ngô non, là cỏ gianh, là đàn hươu thong dong gặm cỏ. Sông Đà không chỉ mang đến tài nguyên thủy điện mà còn bồi đắp phù sa màu mỡ cho núi rừng Tây Bắc. Sông Đà, trong mỗi hoàn cảnh lại có một vẻ đẹp riêng. Khi đi máy bay, có người sẽ thấy đó là “cái dây thừng ngoằn nghoèo”, có người lại thấy con sông như “một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc.” Theo cách nói của tác giả, “đối với mỗi người, sông Đà lại gơi cảm theo mọt cách khác.” Nước sông Đà đổi màu đa dạng theo thời gian. Mùa xuân, nước sông xanh màu ngọc bích, màu xanh quý phái khác hẳn sông Gâm sông Lô”. Mùa thu nước sông lại “lừ lừ chín đỏ”. Và đặc biệt, nước sông Đà chưa từng có màu đen như Thực dân Pháp “lếu láo” gọi. Rõ ràng, Nguyễn Tuân phải hiểu rất rõ về sông Đà mới đưa ra khẳng định như thế. Điều đó vừa làm tôn lên vẻ đẹp của sông Đà, vừa thầm kín thể hiện tình yêu của tác giả đối với dòng sông đặc biệt này. Sông đà còn là dòng chảy của lịch sử nước Nam ta. Bởi lẽ, từ đời Lý – Trần, Lê sơ, cảnh ven sông đều lặng lẽ như tờ. Bờ sông bấy lâu nay vẫn tĩnh lặng hoang sơ giờ đây cần được đổi mới. Giá mà có tiếng còi xe lửa mang theo sự nhộn nhịp giàu sang ở miền xuôi lên Tây Bắc thì tốt biết bao! Những câu văn của Nguyễn Tuân như những bản tình ca êm ái,vừa sống dậy những vẻ đẹp hiện đại, vừa đưa ta trở về với những miền ký ức xa xăm nay chỉ còn là vang bóng.

Nhìn sông Đà như một cố nhân, Nguyễn Tuân thể hiện cái tình cảm tri âm tri kỷ đối với dòng sông kỳ lạ này. Đối với ông, sông Đà không chỉ là mọt tạo vật thuần túy mà còn là một sản phẩm nghệ thuật cần được trân trọng, khám phá. Bằng cái nhìn độc đáo, cảm nhận tinh tế, Nguyễn Tuân đã cho chúng ta thấy “cái chất vàng mười đã qua thử lửa” có một không hai của Tây Bắc. Sông Đà không đơn thuần là một dòng sông, nó là một nhân tố làm giàu đẹp thêm tương lai đất nước.

Đọc “Người lái đò sông Đà”, ta mới thấy rõ con người suốt đời đi tìm cái đẹp của Nguyễn Tuân. Không những thế, ta càng thêm yêu thiên nhiên đất nước, say mê với vẻ đẹp tiềm tàng của núi rừng Tây Bắc thân thương.