Trang chủ Lịch sử Hỏi - Đáp Sử Việt Quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam được ghi nhận như...

Quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam được ghi nhận như thế nào trong Hiệp định Sơ bộ (06.03.1946), Hiệp định Giơnevơ (21.07.1954) và Hiệp định Pari (27.01.1973)

94
0
Chia sẻ

Khái quát quá trình đấu tranh của nhân dân ta để từng bước giành được các quyền dân tộc cơ bản sau mỗi Hiệp định trên?

– Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ là quyền dân tộc cơ bản của mỗi quốc gia dân tộc trong tuyên ngôn độc lập (02.09.1945), chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định Việt Nam trở thành một quốc gia tự do, độc lập, toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.

– Trước những khó khăn của Việt Nam sau CMT8 năm 1945, nhất là âm mưu thôn tính nước ta của thực dân Pháp để đẩy nhanh quân đội Trung Hoa dân quốc về nước, ngăn chặn một cuộc chiến tranh quá sớm và đồng thời tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lượng cho kháng chiến lâu dài, chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí với đại diện của chính phủ Pháp bản Hiệp định Sơ bộ (06.03.1946), theo đó chính phủ Pháp công nhận nước ta là một quốc gia tự do có chính phủ riêng, nghị viện riêng, quân đội và tài chính riêng nằm trong khối liên hiệp Pháp.

– Như vậy, với Hiệp định, chính phủ Pháp mới chỉ công nhận tính thống nhất của nước ra nhưng chưa công nhân nền độc laaoj của ta. Việt Nam còn bị ràng buộc vào nước Pháp.

– Pháp lập ra chính phủ Nam kì tự trị, âm mưu tách Nam kì ra khỏi Việt Nam (phá vỡ sự thống nhất của nước ta). Mặt khác, họ tiếp tục bám giữ lập trường thực dân nuôi hi vọng bằng thắng lợi quân sự, xóa bỏ nền độc lập, nhân dân ta mới giành được.

– Nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện liên tiếp giành được nhiều thắng lợi trên chiến trường. Đó là chiến thắng Việt Bắc (1947), chiến thắng Biên giới Thu Đông (1950), kết thúc bằng cuộc tấn công chiến lược Thu Đông (1953 – 1954) mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ (1954), buộc Pháp phải kí Hiệp định Giơnevơ (21.07.1954) để công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước Đông Dương.

– Có thể thấy, nếu như trong Hiệp định Sơ bộ, Pháp mới chỉ thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, thống nhất thì đến Hiệp định Giơnevơ, lần đầu tiên một hiệp định quốc tế với sự tham gia của các nước lớn đã phải công nhận đầy đủ các quyền cơ bản của Việt Nam.

– Tuy nhiên, sau 2 năm thi hành Hiệp định Giơnevơ, nước Việt Nam không được thống nhất bằng một cuộc tổng tuyển cử mà bị chia cắt thành 2 miền: miền Bắc hoàn toàn giải phóng và bước vào thời kì quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội nhưng ở miền Nam, Mĩ thay chân Pháp âm mưu chia cắt đất nước ta lâu dài.

– Nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng phải tiến hành một cuộc chiến tranh cách mạng, mở đầu bằng phong trào Đồng Khởi. Kể từ đó, cách mạng miền Nam liên tục chuyển sang thế tiến công từng bước đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ từ chiến tranh đặc biệt đến Việt Nam hóa chiến tranh phối hợp với nhân dân miền Bắc đập tan cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân Mĩ, làm nên trận thắng “Điện Biên Phủ trên không”, buộc Mĩ phải kí Hiệp định Pari rút quân về nước, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27.01.1973)

– Hiệp định Pari đã ghi rõ Hoa Kì và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ ở Việt Nam. Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của quân và dân ta. Với thắng lợi này, ta đã đánh cho Mĩ cút, làm giảm lực lượng trên chiến trường, thay đổi có lợi để ta tiếp tục đấu tranh đánh nhào ngụy, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nước nhà.

– Mặc dù cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam song Mĩ vẫn chưa từ bỏ chính sách thực dân mới, Mĩ tiếp tục để lại hơn 2 vạn cố vấn quân sự giúp đỡ tay sai ngang nhiên phá hoại hiệp định Pari.

– Nhân dân miền Nam phải đấu tranh chống địch, phá hoại Hiệp định, chống lại chiến dịch tràn ngập lãnh thổ, tạo thế và lực để mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, hình thành sự nghiệp thống nhất Tổ quốc.

– Trải qua 30 năm đấu tranh kiên cường bất khuất chống chủ nghĩa thực dân cũ và thực dân mới, (1945 – 1975), với tinh thần thà ki sinh tất cả để bảo vệ nền độc lập tự do, nhân dân ta đã giành thắng lợi trọn vẹn, các quyền dân tộc cơ bản có được là: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

Lịch sử Việt Nam